GIÁ TRỊ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN DI CĂN HẠCH CỔ TIỀM ẨN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAI HẠ HỌNG VÀ THANH QUẢN

Read full text
Authors: Xuân Quang Lý, Thị Hà Phương Trần, Bảo Minh Triết Nguyễn
Cited by: 0

Abstract

Mở đầu: Chẩn đoán chính xác tình trạng di căn hạch cổ là yếu tố then chốt trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gai (UTBMTBG) hạ họng và thanh quản. Mặc dù chụp cắt lớp vi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI) là công cụ chẩn đoán chính, khả năng bỏ sót di căn hạch tiềm ẩn (DCHTA) của chúng vẫn là một thách thức lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định điều trị. Mục tiêu: Đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và âm của CT và MRI trong chẩn đoán di căn hạch cổ ở bệnh nhân (BN) UTBMTBG hạ họng và thanh quản. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu hồ sơ bệnh án của 78 BN UTBMTBG hạ họng và thanh quản được phẫu thuật và nạo hạch cổ hai bên nhóm II, III, IV tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và Bệnh viện Quân y 175 từ 01/2021 đến 06/2025. Kết quả chẩn đoán hình ảnh trước mổ được đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh (GPB) sau mổ. Kết quả: Khi đánh giá trên từng BN, chẩn đoán di căn hạch (cN+) dựa trên CT/MRI có độ nhạy 85,2%, độ đặc hiệu 86,3%, giá trị tiên đoán dương 82,9% và giá trị tiên đoán âm 88,3%. Khi phân tích trên từng nhóm hạch riêng lẻ (n=468), độ nhạy giảm xuống còn 67,2% trong khi độ đặc hiệu là 96,3%. Kết luận: CT và MRI là những công cụ có giá trị cao trong việc xác định tình trạng di căn hạch cổ trên từng BN. Tuy nhiên, các phương tiện này có độ nhạy hạn chế trong việc phát hiện di căn ở từng nhóm hạch riêng lẻ, cho thấy khả năng bỏ sót các ổ di căn tiềm ẩn và khẳng định vai trò của nạo hạch cổ chẩn đoán giai đoạn.

Fields of Study & Subjects

Head and Neck Cancer Studies Cancer Diagnosis and Treatment Gastric Cancer Management and Outcomes

Publication details

Journal / source
Tạp chí Y học Việt Nam
Volume
558
Issue
1
Publication date
28 January 2026