YẾU TỐ NGUY CƠ HUYẾT KHỐI TIỂU NHĨ TRÁI Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ TẠI BỆNH VIỆN TIM TÂM ĐỨC

Read full text
Authors: Thị Thanh Trà Huỳnh, Tuấn Vũ Nguyễn, Thất Minh Tôn
Cited by: 0

Abstract

Đặt vấn đề: Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất trong lâm sàng, có liên quan chặt chẽ đến nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ và thuyên tắc mạch hệ thống. Hơn 90% các trường hợp huyết khối trong nhĩ trái ở bệnh nhân RN được hình thành tại tiểu nhĩ trái. Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ hình thành huyết khối tiểu nhĩ trái có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp bệnh nhân sớm được thực hiện siêu âm tim qua thực quản để phát hiện huyết khối tiểu nhĩ trái, từ đó tối ưu hóa điều trị chống đông và lựa chọn chiến lược can thiệp phù hợp. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố liên quan đến sự hình thành HK TNT ở bệnh nhân RN. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại Bệnh viện Tim Tâm Đức từ tháng 12/2024 đến tháng 9/2025 trên 117 bệnh nhân ≥18 tuổi được chẩn đoán RN và thực hiện siêu âm tim qua thực quản (SATQTQ) để khảo sát huyết khối tiểu nhĩ trái. Các dữ liệu thu thập gồm đặc điểm lâm sàng, bệnh lý đồng mắc, điểm CHA₂DS₂-VASc, các chỉ số xét nghiệm máu (CRP, acid uric, NT-proBNP, eGFR) và thông số siêu âm tim (đường kính nhĩ trái, phân suất tống máu thất trái). Phân tích thống kê được thực hiện bằng SPSS 20.0 với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Trong 117 bệnh nhân, có 14 trường hợp (12,0%) được phát hiện HK TNT. So với nhóm bệnh nhân không có HK TNT, nhóm bệnh nhân có HK TNT có tỷ lệ suy tim sung huyết cao hơn đáng kể (35,7% so với 1,9%; p < 0,001) và rung nhĩ không phải cơn (dai dẳng/vĩnh viễn) chiếm ưu thế (85,7% so với 30,1%; p < 0,001). Các chỉ số điểm CHA₂DS₂-VASc, acid uric, NT-proBNP và đường kính nhĩ trái đều cao hơn có ý nghĩa ở nhóm HK TNT với p lần lượt là 0,011; 0,008; 0,008; 0,001. Tuy nhiên khi phân tích hồi quy logistic đa biến nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận suy tim sung huyết là yếu tố nguy cơ độc lập mạnh nhất làm tăng khả năng hình thành HK TNT (OR = 13,33; KTC 95%: 1,235 – 143,912; p = 0,033). Bên cạnh đó, RN không phải cơn cũng được xem là yếu tố tiên lượng mạnh với nguy cơ hình thành huyết khối tiểu nhĩ trái cao gấp gần 10 lần so với rung nhĩ cơn (OR = 9,95; KTC 95%: 1,586 – 62,372; p = 0,014). Kết luận: Suy tim sung huyết và loại RN không phải cơn là hai yếu tố nguy cơ độc lập của HK TNT. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa lâm sàng và phương tiện cận lâm sàng trong dự đoán nguy cơ hình thành cũng như xác định huyết khối TNT nhằm phát hiện sớm, tiên lượng bệnh và đưa ra những chiến lược điều trị tích cực hơn

Fields of Study & Subjects

Atrial Fibrillation Management and Outcomes Cardiac tumors and thrombi Cardiovascular and Diving-Related Complications

Publication details

Journal / source
Tạp chí Y học Việt Nam
Volume
558
Issue
1
Publication date
28 January 2026